Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2009


Bẩm Đức Cha

Tờ khai các việc gốc tích họ Yên Hoà về xứ Kẻ Mui


1- Họ Yên Hoà mới được gọi tên ấy từ Đức duy Tân cửu niên về sau, còn từ duy tân cửu niên về trước, nguyên hãy còn biệt lập làm 3 họ, là họ vạn Nầm, vạn Quát, vạn Tân Mị, người trong các họ ấy vốn chuyên nghề ngư nghệ sinh nhai, là người góp mọi nơi hợp lại, người Hương Khê, người Hà Phù, người Thanh Lương, bởi đó người họ vạn Tân Mị là gốc người Hà Phù. Còn họ vạn Nầm vạn Quát cũng là gôc người Hương Khê về Phương Tân Vạn, mà vốn khi đầu vạn Nầm vạn Quát cũng là người một họ đạo là họ vạn Nầm mà thôi, song về sau nên đông đúc, nên ở chung lộn cùng nhau mà làm ăn tại Nầm, thì sinh lôi thôi nhiều điều, nên mới chia nhau, nhau mà lên làm ăn miền trên cùng độ tại bãi Quát Hạ. bởi đó về sau cũng đứng lập làm 2 họ là Nầm và Quát, mà ăn chịu theo phiên xứ, là họ Nầm và họ vạn Quát, song cũng là người Hương Khê cả, thuở trước nguyên thuộc về xứ Đông Tràng mà về sau, là từ năm 1913 khi đã biệt lập xứ Kẻ Mui rồi, thì họ vạn Nầm vốn ăn gánh theo xứ Đông Tràng, song vì người họ ấy quanh năm vốn lên làm ăn các ngọn rào trên về xứ Kẻ Mui, nên cứ xứ Kẻ Mui thường phải làm các phép cho họ, rồi cũng sinh lôi thôi, bất tiện nhiều đàng nên bề trên mới truyền họ phải nhập theo hai vạn kia, mà nhận tên là Yên Hoà tộc, nhà thờ họ Nầm khi trước làm tại Yên Nghĩa. Song rày nhà thờ cả 3 họ là Yên Hoà thì rày làm tại địa phận Tỉnh Diệm, thuộc về đất chung đường khai khẩn, nhà chung cho họ một thuả đất chừng 3 sào cho được thiết lập thánh đường và cũng ban phép cho các nhà tư tạu tành, mà bao lập viên cư. Cho nên đã có 3,5 nhà tạu đất và đã có 5 nhà làm nhà vừa ở, nhà thờ và đất họ tạu thì ở phía tây nhà xứ Kẻ Mui cách con sông nhở. Còn về phần đời thì từ Duy tân cửu niên chí tiền, khi gọi là Vạn Nầm và hãy còn ăn chịu sưu đinh về quán là Phương Tân và Hà Phù. Còn từ Duy Tân cửu niên về sau thì đã nhờ các đấng lo cho nên đã biệt lập thành một tiện và gọi là làng Yên Hội, vì vậy từ ấy lại rày, thì đinh sưutập dịch bua quan đều thi quy về huyện Hương Sơn hết, trong làng Yên Hội chẳng những là người có đạo về vạn Phương Tân và Hà Phù mà thôi, mà lại cũng có 7 nhà binh dân về Thanh Lương vạn, thuộc phủ Anh Sơn, là con cháu ông Đào, ông Long, nó cũng xin phụ nhập về làng Yên Hội nữa, hoá ra làng Yên Hội không toàn tòng, song vì chúng nó yếu thế mọi đàng, cho nên mọi việc bua quan, nó đều phải phục tòng kẻ có đạo cả, còn như việc quan hôn táng tế các tự biệt, không thông công gì cùng nhau hết, mấy người Hương Khê sang đầu hết. Là cụ Văn Nghi, Phạm Văn Định, Cao Văn Ân và ít nhiều kẻ khác về Hà Phù là cố Trâm, cố Chuyên, cố Mậu- Tình - Triều các ông ấy sang làm ăn đầu hết, sau đi hạ tử tôn thêm đông mà lập thành thôn tộc ấy là gốc về các người trong họ Yên Hoà.
2- Gốc tích mà lập họ như đã nói mới rồi. Còn họ Nầm thì có trước tháp, bởi đó khi bắt đạo thì cũng phải cơ cực như bổn đạo trên đất lúc ấy có vạn mục Triêm và cao văn Cu cùng ít nhiều người khác phải tháp lên ở chợ Trị, về xã Phúc Dương, song cũng được tha trong đời Tự Đức, lúc ấy có một con gái lên làm ăn đang son sẻ thì nó bỏ đạo, mà kết bạn với danh nhân ngoại đạo chèo đò ngang về miền Dừa làng, gọi là đò Rồng. Đến năm giáp tuất thì làng Nầm mới phải thiệt hại, lúc ấy có Cao hồ Tố gọi là Năm Thiệu, và cố Bang Cẩu là người mô bên Thanh Chương võ Liệt khí nghĩa, cho được sát tả bình tây, lúc có mấy nhà có đạo họ Nầm lên làm ăn đàng qui Chu, thì đã có 6 người bị Bang Cẩu giết tại vạn Sẻ, là 2 vợ chồng ông Tần và một đứa con, hai vợ chồng ông Tăng, và ông Điểng, lại có 4 mẹ con mụ Điểng, 2 anh em ông Điều, 2 vợ chồng ông Lệ, 2 vợ chồng ông Giáo, 3 người nhà ông Nhự cũng phải tay Bang Cẩu giết, tại Bồi chân vạn, giữa chợ Hiếu thuộc Qùi Chu, rồi sau nó nghe tinbên Hương Sơn có đội Lựu về Phúc Dương cũng mở cờ khí nghĩa, thì nó kéo qua truông hồng, rồi qua truông Mung mà sang, nó lại bắt 3 cha con ông Quí, danh Ngụ là con ông Điều, Danh Khiêm, là kẻ có đạo họ Nầm, rồi có điệu lên yên hạ, tại tộc bến đó kia rày tục hiệu là cầu Chàm kết mà chám ở đó, đoạn kéo xuống Phúc Dương là quê đội Lựu mà đóng tại đó cho được bày mưu lập kế, cùng sắp đặt tu bổ quân quốc voi ngựa cho được kéo xuống làm cổ Thọ Ninh, cùng lấy phủ Đức, song việc đó toan không kịp, mọi sự đều ra vô ích cho nó hết, vì lúc ấy có quân quan nhà nước là quan tướng bổ sai và quan lịch chư, lại có một giải có đạo theo hộ giúp, gọi là đội võ lâm thân thúc kéo lên ban ngự chúng nó tại tuần Tam sa, cùng đuổi theo đánh chúng nó tại bãi Lù về địa phận gôi Vị riết và cũng cát lắm, cho nên túng thế thì chúng nó phải lùi lại, cũng định rút lên Hà Trại, vì vậy chúng nó mới còn tầm cùng bắt các nốc vạn, mà tải quân quốc lương thực, khí giới cho nó, mà ngược Hà Trai, khi chúng nó tới làng kia về địa phận tỉnh Diệm gọi là Hà Tân, thì xảy ra chuyện này là có tên xa xiển vô đạo, về thôn Đa Liệu, rày xa cách đồn Phố Châu chừng hai cật kilometrer nó có mắc nợ mới Ngọc là người có đạo làng Nầm 100 quan tiền và 40 thúng lúa, thì nó mới toan mưu mà bắt cùng nật mới Ngọc cho tổng thổng bên giặc là cậu năm Thiệu, cho nó giết để anh ta khỏi trả nợ ấy, vì vậy mới Ngọc phải chém tại khe hói Mói rày là đất Bang tốn khẩn thuộc về địa phận tỉnh Diệm, đoạn nó kéo ngược khi tới Hà Chua, thì lại chém 2 người bổn đạo làng Nầm là mới Chinh, cùng ông Ngân là cha ông trùm cát họ Yên Hoà bây giờ, khi ấy rồi còn đóng đó một đêm , đoạn mới kéo thẳng Hà Trai, khi tới Hà trai rồi, thì kẻ có đạo họ Nầm mới cơ cực hơn, là ở đó nó chém hết52 người cả nam phụ lão ấu, còn răng nấy kẻ tra con nít, thì nó lại đem lên bãi Hà Vừ mà chém, song không biết mấy người cho rõ, nó chọn lấy 2 người là thứ con trai ít tuổi và đàn bà còn trẻ tuổi, cùng thứ con gái xinh giỏi thì nó đem theo lên mường mà gả bán, thứ thì lấy bạc, thứ thì lấy súng, sau quan hổ sai và quan lĩnh linh Chư lên đánh dẹp , chúng yên rồi, thì các kẻ ấy thừa dịp tốt làm vậy mà xin các quan cứu mình cho khỏi tay quân mường, nên mọi người cũng đã về được bản hương mình cả, chỉ có Danh Tín không về, vì nó mê chùa Na Hương nghe rằng, sau nó đã nên sự Chính nơi chùa Na Hương rồi, khi quân quan nhà nước lên thì Bang Cửu đã chết, còn đội Lựu thì nhờ quân mường làm mối mới bắt được, thì bắt nghỉ, nghỉ có chống trả, nên có bị ở dấu, song còn sống, nên các quan tống vào cụi mà đệ về tỉnh, lúc giặc giả trong làng Nầm có 3 con gái mê theo xác thịt nên bỏ đạo mà theo kẻ ngoại.
3- Người trong họ Yên Hoà rày được 269 người, kém hơn trước nhiều, vì phải một hai năm mới rồi chết quá nhiều, vì chứng Hoa đậu, của cải nhà thờ không có chi, chỉ có 3 sào của nhà chung cho mà lập nhà thờ, và họ có tậu thêm vào đó một sào rưỡi nữa, còn về họ thì có sào ngư 2 sớ, ruông đợ 7 sào và đất tạu nhà chung 1 sào rưỡi và tiền cả nợ nần mô chừng 300 quan, còn thứ tiền trình sổ năm ngoái đã tậu đi 500 quan, tiền vuông rồi.
4- Hầu hết mọi người trong họ chuyên cần ngư nghệ sinh nhai, trừ 1,2 kẻ lên đất buôn bán, hay là săng gỗ rú rừng, và 1,2 nó xuôi ngược đò giang mà thôi, bởi đó mà quan canh giờ nặng, kẻ đàn anh lo kém nên mọi người cũng khổ và đói nghèo hầu hết, nhất là vì người ta trong họ ấy, các nhà tư vụng về ăn tiêu, không hay chắt lót tặn tiện như người trên đất, cho nên càng thêm nghèo hơn, trong cả họ khuôn chừng cũng được mười nhà đủ ăn mà thôi. Vả lại về phần chữ nghĩa nghi cũng kém lắm, vì bản tính nhà vạn ưa bát cạy, lặn lội hơn là chữ nghĩa văn vật, có được một người là Võ Sum có vào đệ nhị, đệ nhất một hai kỳ, song không độ, rồi cũng bỏ nhưng mà người ấy rày lại vào họ Yên Quát rồi, mọi người giữ đạo thường, sánh theo các họ trong xứ thì cũng không kém, nguyên bản tính đàn ông làng vạn, thì mê uống rượu rồi đập đánh nhau, đàn bà thứ ưa đôi lai đôi mách, và hay chưởi mắng nhau, song hai tính ấy, là rượu và mu chưởi, có sửa được ít nhiều. Còn sự xưng tội chịu lễ về đàng đàn bà con nít được ba phần chăm, còn một phần sưa sưa một năm chừng 4 lần, còn đàn ông thì 1 phần một năm 2 lần một phần khác thì thường một năm chừng 4, 5 lần, có đỏ Thiện, khán Quang, dảnh Ký, dảnh Dỵ, thì chẳng những nó bỏ xưng tội, mà lại nó cũng bỏ làng nước, lên rú rừng, mường mán làm ăn, một năm 2 kỳ làm phúc nỏ thấy mặt mụi bao giờ, có lẽ sau nó cũng bỏ cả đạo nhân thể.
5- Con trẻ trong họ cũng nói được siêng học, song không học được mấy chút, vì phải đi theo cha mẹ làm ăn tan tác, không mấy khi hội về được, cho nên quanh năm học được 2 kỳ làm phúc và học với thầy biện cũng được chừng vài tháng nữa mà thôi.
6- Nhà thờ họ có được 5 gian nhà gỗ, lợp tranh rày cũng đã hơi cũ, mọi người xem lễ đọc kinhcũng vừa chật là của họ đậu hiệm đóng góp mà làm, khi nhập lại thì vạn Tân Mị và vạn Quát có của mà xuất cấp, còn họ van Nầm không có nên có cái nương nhà thờ cộ khi trước tại kẻ Sét có bán cầm đi 308 quan mà phụ cấp với vạn mà làm. Có bàn thờ thường không cộ, một bộ khuôn giấy, 3 đôi chân nến sơn thiếp khá, 3 tượng gỗ tạc .v.v. và đàng câu rút cũng khá .

Không có nhận xét nào:

BÀI ĐĂNG PHỔ BIẾN