Người ta thường thở dài và nói: “Đời là thế!”. Cũng với ý đó,
người Pháp nói: “C’est la
vie!”, còn người Anh nói: “It’s
life”. Khi nói câu này, có lẽ người ta đã nhận ra điều gì đó bí ẩn mà
không thể hiểu và “đành” chấp nhận, dù muốn hay không muốn, vừa mặc nhiên vừa
minh nhiên.
Cậu bé Giêsu nghèo
ở xóm lao động tại làng Nadarét càng thêm tuổi càng thêm vững mạnh, đầy khôn
ngoan, và được ân nghĩa với Thiên Chúa (Lc 2:40). Còn chúng ta, dù không hoàn
hảo, nhưng càng có tuổi cũng càng thêm kinh nghiệm – dù ít hay nhiều, nhưng
cũng chỉ nói được: “Đời là
thế!”. Người ta gọi đó là thế thái nhân tình, hay nói ngắn gọn là “thói
đời”.
Những người trung
niên trở lên hẳn là có thể từng nghe đến tên Mặc Thế Nhân (*), nhất là những
người yêu thích âm nhạc, hoặc không biết ông là tác giả một số ca khúc phổ biến
(ngày nay vẫn được hát) thì cũng đã từng nghe hoặc hát nhạc của ông. Một trong
số ca khúc nổi tiếng của ông là ca khúc “Thói Đời”. Một tựa đề đầy “chất đời”.
Ca khúc này nói về
cái “đời là thế” của thế thái nhân tình đầy bạc bẽo! Ca từ giản dị mà thâm
thúy, giai điệu không cầu kỳ mà vẫn “đẹp” và tạo sự lắng đọng trong tâm hồn.
Đoạn MỘT: “Đường thương đau đầy ải nhân
gian, ai chưa qua chưa phải là người. Trong thói đời cười ra nước mắt, xưa
trắng tay gọi tên bằng hữu, giờ giàu sang quên nghĩa tâm giao, còn gian dối cho
nhau”.
NS Mặc Thế Nhân
viết ca khúc này khi ông còn trẻ, thế mà ông đã có “tầm nhìn” vừa sâu vừa rộng
để có thể “nghiệm” được “sự đời” như thế. Sinh ra ai cũng bật khóc như “thấy
trước” được“đường thương đau đầy ải nhân gian” vậy! Ông xác định: “Ai chưa qua chưa phải là người”,
như một lời tiên tri vậy. Quả thật, chính đau khổ mới khiến người ta “nên
người”, chính gian nan vất vả mới làm người ta thành nhân, chứ không phải sự
giàu sang sung sướng.
Ông nhận xét rất
thực tế: “Trong thói đời cười
ra nước mắt, xưa trắng tay gọi tên bằng hữu, giờ giàu sang quên nghĩa tâm giao,
còn gian dối cho nhau”. Cuộc đời có những tình huống khiến người ta “cười
ra nước mắt”. Không chỉ “giàu đổi bạn, sang đổi vợ”, mà người ta còn giả dối và
lọc lừa nhau bằng mọi thủ đoạn bỉ ổi, như ngày nay người ta mỉa mai: “Lương tâm không bằng lương tháng”.
Đoạn HAI: “Người yêu ta rồi cũng xa ta nên
chung thân ta giận cuộc đời. Đôi mắt nào từng đêm buốt giá, bên chiếu chăn tình
xa nhịp thở, tiền đổi tay khi rũ cơn mê để chua xót trên lối về”.
Ngay cả trong tình
yêu cũng vậy thôi: “Người yêu
ta rồi cũng xa ta nên chung thân ta giận cuộc đời”. Người yêu, vợ hoặc
chồng còn bỏ ta thì còn ai không bỏ ta? Nghĩa là ai cũng bỏ ta, dù “bỏ” theo
nghĩa đen hay nghĩa bóng. Vì thế mà người bị tình phụ có thể “hận đời”, thậm
chí có những người tuyệt vọng đến nỗi quyên sinh. Buồn lắm, buồn đến nỗi “đôi mắt từng đêm buốt giá, bên
chiếu chăn tình xa nhịp thở”, xót xa lắm, vì “tiền đổi tay khi rũ cơn mê” rồi thì chỉ còn một mình “chua xót trên lối về”. Đau
lắm!
Đoạn BA: “Rượu trần ai gội niềm cay đắng,
những suy tư in đậm đường hành, mình còn ai đâu để vui khi trót sa vũng lầy
nhân thế, cỏ ưu tư, muộn phiền nên xám môi”.
Đau lòng quá nên
người ta muốn tìm quên trong men rượu: “Rượu
trần ai gội niềm cay đắng”, mặc cho “những
suy tư in đậm đường hành”. Bởi vì “mình
còn ai đâu để vui khi trót sa vũng lầy nhân thế”. Chắc hẳn ai cũng đã từng
hơn một lần sa vào “vũng lầy nhân thế”, dù mức độ khác nhau và mỗi “vũng” cũng
khác nhau. Chính lúc này mới cần “bản lĩnh sống”. Nếu thiếu bản lĩnh này, người
ta sẽ sa đà vào nhiều thứ nguy hiểm, nguy hiểm đến nỗi mình cũng khó biết mình
đang bị nguy hiểm. Con người quá yếu đuối. Người vui cảnh cũng vui, người buồn
cảnh cũng buồn, thế nên “cỏ ưu tư” – tức là mình ưu tư mà thấy cỏ cũng như đồng
cảm, đến nỗi “muộn phiền nên xám môi”. Suy nghĩ quá và buồn quá nên mất ngủ,
mất ngủ nên mắt thâm quầng, tất nhiên “xám môi” là lẽ đương nhiên.
Đoạn BỐN: “Bạn quên ta tình cũng quên ta,
nên chân đêm thui thủi một mình. Soi bóng đời bằng gương vỡ nát, nghe xót xa
ngời lên tròng mắt, đoạn buồn xa ta đã đi qua ngày vui tới ta vẫn chờ”.
Khi chúng ta sa cơ
thất thế, chẳng ai còn muốn quen ta chứ nói chi muốn gần ta. Một mình bước đi
lầm lũi, đi không ai biết, về chẳng ai hay: “Chân
đêm thui thủi một mình”. Mình nhìn ta, mình nhìn bóng, tự độc thoại giữa
bốn bức tường vắng lặng: “Soi
bóng đời bằng gương vỡ nát”, thế nên nhiều lúc “nghe xót xa ngời lên tròng mắt”,
và con người vẫn muốn thoát khỏi vũng lầy đó:“Đoạn buồn xa ta đã đi qua
ngày vui tới ta vẫn chờ”. Vì thế mà người ta có thể gượng đứng dậy mà tiếp
tục sống…
Thói đời là thế.
Xưa nay vẫn vậy. Chấp nhận để tâm hồn thanh thản, chấp nhận để biết mình hữu
hạn và cần sự trợ giúp của Đấng Vô Hạn, Đấng đó có thể cứu mình, có thể biến
thất vọng hoặc tuyệt vọng trở thành hy vọng. Đấng đó là Thiên Chúa. Không ai
thấy Thiên Chúa, nhưng qua Kinh thánh, chúng ta đã biết rõ Đức Kitô là Ngôi Hai
Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa, chắc chắn ai thật lòng tin vào Đức Giêsu và thực
hành điều Ngài truyền dạy thì được cứu độ: “Thiên
Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi
phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga
3:16).
Quả thật, nếu chỉ
trông mong vào con người thì chúng ta chắc chắn sẽ hoàn toàn tuyệt vọng. Vì
thế, chúng ta luôn “như nai
rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn cũng trông mong được gần Chúa” (Tv 42:2). Đức tin quan trọng hơn phép
lạ, thế nên rất cần tin tưởng vào Lòng Chúa Thương Xót, vì “chẳng ai trông cậy Chúa mà lại
phải nhục nhằn tủi hổ” (Tv
25:3). Chắc chắn là vậy: “Dù
cha mẹ có bỏ con đi nữa, thì hãy còn có Chúa đón nhận con” (Tv 27:10).
Chúng ta quen nghe
nói về “Phẩm hàm Men-ki-xê-đê”. Nhưng Men-ki-xê-đê là ai? Thánh Phaolô cho
biết: “Ông Men-ki-xê-đê (tên
này nghĩa là Vua Công Chính) là vua Sa-lem, nghĩa là Vua Bình An. Ông không có
cha, không có mẹ, không có gia phả, cuộc đời không có khởi đầu, cũng không có
kết thúc. Như thế là ông giống Con Thiên Chúa: mãi mãi ông vẫn là tư tế” (Dt 7:2-3). Men-ki-xê-đê chỉ là người
tứ cố vô thân, thế nhưng lại được Thiên Chúa xót thương muôn đời.
Biết như thế,
chúng ta càng thêm vững tin vào Thiên Chúa. Chính điều này khả dĩ củng cố đức
tin, dù bạn đang là người cô đơn nhất thế gian này. Thói đời là thế, thế thái
nhân tình là vậy, nhưng đừng quan ngại, vì Thiên Chúa yêu bạn vì “bạn là bạn”,
Ngài vẫn mãi nhân từ và trọn tình thương với bạn đến muôn đời! (1 Sbn 16:345; 1
Sbn 16:41; 2 Sbn 5:13; 2 Sbn 7:3; 2 Sbn 7:6; 2 Sbn 20:21; 1 Mcb 4:24; Tv 100:5;
Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118 1-4 & 29; Tv 136:1-4).
TRẦM
THIÊN THU
Nửa đêm mùa
Đông – 2012
_____________
(*) Mặc Thế
Nhân là một nhạc sĩ nổi tiếng ở Việt Nam trước năm 1975 với nhiều ca
khúc tình cảm đặc sắc. Được biết tới nhiều nhất là 10 ca khúc mang tựa đề Tương
Tư của ông, trong đó nổi bật hơn cả là bài “Tương Tư 4” được trình bầy bởi
nhiều giọng ca nam nổi tiếng như Elvis Phương, Sĩ Phú,… Ngoài những bản tình
ca, ông còn sáng tác những nhạc phẩm mang âm điệu quê hương. Ngoài phần là một
nghệ sĩ, ông còn nghiên cứu về tâm linh.
NS Mặc Thế
Nhân tên thật là Phan Công Thiệt, sinh năm 1939 tại Gia Định, trong một gia
đình trung lưu. Theo Tây học, ông đã có một tâm hồn nghệ sĩ ngay từ thuở còn
thơ ấu. Bắt đầu học nhạc lúc 17 tuổi với các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Hùng Lâm,
Nguyễn Cầu, Nguyễn Quý Lãm, Xuân Bình, tại trường Ca Vũ Nhạc Phổ thông. Ròng rã
hai năm trời thụ mãn, ông ra trường và gia nhập ban Hoa Niên. Ngoài ra ông còn
hợp tác với ban đàn dây Xuân Bình để trình diễn ở đài phát thanh. Thời gian này
ông đã hoạt động văn nghệ nhiều nhất.
Nhạc phẩm đầu
tay của ông là bản “Trăng Quê Hương”” (1958), sau đó là bản “Vui Tàn Ánh Lửa”
(1959). Ông cũng đã dạy nhạc lý cho một trường tư thục tại Saigon
và rèn luyện cho một vài ca sĩ nổi tiếng thời đó. Ông còn là một ký giả tân
nhạc kịch trường, cộng tác với nhật báo Lẽ Sống và tuần báo Bình Dân, với các
bút hiệu Mộng Thu và Giang Ái Sĩ.
Năm 1960, ông
đã xuất bản nhạc phẩm “Rồi Một Ngày”, đó là tiếng nói lo âu của một đôi tim
trong lứa tuối yêu đương, lúc nào cũng lo sẽ có ngày phải xa cách. Tiếp theo là
các nhạc phẩm Xích Lại Gần Anh Tí Nữa, Thế Hãy Còn Xa Lắm, và Tiếng Vạc Sầu
Đêm. Ngoài việc sáng tác nhạc, ông còn là một kịch sĩ và là một Khẩu cầm thủ
hữu hạng lúc bấy giờ.
Ngoài các nhạc
phẩm mang nặng tính chất lãnh mạn trữ tình, ông còn sang tác những nhạc phẩm ca
tụng kiếp sống hải hồ với những chuyện tình thơ mộng như trong các ca khúc
Người Em Hải Đảo, Sầu Đất Tổ, Sầu Nhân Thế, Cho Vừa Lòng Em, Đừng, Ngày Xuân
Vui Cười, Trả Lại Anh,…
